Lên phía trên
Thông tin mới về thuế thu nhập cá nhân
Câu hỏi:
Sau khi QH thông qua việc miễn giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) bậc 1 cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, nhiều bạn đọc thắc mắc, những người có thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng có được miễn thuế đối với phần dưới 9 triệu đồng trước khi tính thuế hay không?
Trả lời:
1. Thuế TNCN đối với người thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng

Theo  quy  định  tại  Luật Thuế TNCN, thuế bậc 1 nghĩa là mức thu nhập tính thuế sau khi đã trừ tất cả các khoản được  miễn  giảm  chỉ  còn  từ 0 đến dưới 5 triệu đồng, cá nhân phải nộp mức thuế suất 5%. Theo luật, 1 cá nhân được giảm trừ cho bản thân mình 4 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập, nếu tổng thu nhập người này dưới 9 triệu đồng/ tháng sẽ được miễn thuế. Tương tự, đối với cá nhân có 1 người phụ thuộc (theo luật được giảm trừ 1,6 triệu đồng/ tháng),  tổng  thu  nhập  dưới 10,6 triệu đồng và cá nhân có 2 người phụ thuộc tổng thu nhập  12,2  triệu  đồng/tháng  cũng không phải nộp thuế.

Tuy nhiên, có 2 điểm cần lưu ý là thời gian miễn giảm  thuế  từ  1.8  đến  hết 31.12.2011, kéo dài 5 tháng và  Quốc  hội  chỉ  miễn  thuế cho người có thu nhập ở bậc 1, những người có thu nhập từ bậc 2 đến bậc 7 vẫn phải nộp bình  thường  theo  biểu  thuế lũy  tiến  từng  phần  tại  Luật Thuế TNCN.
 
Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế / năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế / tháng (triệu đồng) Thuế suất
(%)
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35

2. Hướng dẫn mới về thu thuế Thu nhập cá nhân

Ngay sau khi Quốc hội ra Nghị quyết miễn giảm thuế TNCN bậc 1 cho cá nhân có thu nhập dưới 9 triệu đồng/ tháng, Bộ Tài chính đã ban hành một loạt quy định mới xung quanh nội dung này.

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 113 của Bộ Tài chính, kể từ ngày 19.9, các khoản thu nhập vãng lai trên 1 triệu đồng mới bị khấu trừ trực tiếp tại nguồn (thay vì 500.000 đồng như hiện hành). Cụ thể, các khoản chi trả tiền hoa hồng, đại lý bán hàng, tiền lương, tiền công... thu nhập từ 1 triệu đồng/lần trở lên áp dụng mức khấu trừ tỷ lệ 10% trên tổng  thu nhập với cá nhân đã có mã số thuế. Đối với cá nhân chưa làm mã số thuế áp mức khấu trừ 20%.

Cũng kể từ ngày 19.9, cá nhân  chuyển  nhượng  quyền sử dụng đất, nhà, căn hộ đã có sổ đỏ phải nộp thuế suất 25% trên thu nhập chuyển nhượng. Thu nhập chuyển nhượng bằng giá chuyển nhượng trừ đi giá vốn, trong đó giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng.

Đối với hợp đồng mua bán nền nhà, hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, căn hộ... cá nhân kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân bằng 25% trên thu nhập. Trường hợp giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng  chuyển  nhượng  hoặc ghi trên tờ khai thuế TNCN thấp hơn giá đất, giá tính lệ phí trước bạ do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng hoặc không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp chứng minh giá vốn thì cơ quan thuế ấn định giá chuyển nhượng và tính thuế 2% trên giá chuyển nhượng ấn định. Việc ấn định giá  chuyển  nhượng  căn  cứ vào bảng giá đất, giá tính lệ phí  trước  bạ  nhà  do  UBND cấp tỉnh quy định.

Đối  với  chuyển  nhượng hợp  đồng  mua  bán  nhà  ở hình  thành  trong  tương  lai cá nhân kê khai và nộp thuế theo  thuế  suất  25%  trên thu  nhập.  Trường  hợp  giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng, trên tờ khai thuế thấp hơn giá đất, giá tính lệ phí trước bạ do UBND cấp tỉnh quy định tại thời  điểm  chuyển  nhượng; đồng thời không có hóa đơn, chứng  từ  hợp  pháp  chứng minh  giá  chuyển  nhượng, giá vốn thì cơ quan thuế tính thuế 2% trên giá đất, giá tính lệ phí trước bạ nhà do UBND cấp tỉnh quy định.

3. Các khoản trợ cấp, phụ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

-  Theo  tiết  2.2  khoản  2 mục II phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC  ngày  30- 9-2008  của  Bộ  Tài  chính hướng  dẫn  thi  hành  một số điều của Luật Thuế thu nhập   cá   nhân   và   hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8-9- 2008  của  Chính  phủ  quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, các khoản phụ cấp, trợ cấp sau đây sẽ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân: 1- Phụ cấp đối  với  người  có  công  với cách  mạng  theo  quy  định của pháp luật về ưu đãi đối với người có công, bao gồm phụ cấp, trợ cấp cho thương binh,  bệnh  binh,  cho  thân nhân liệt sỹ; phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ hoạt động cách mạng; phụ cấp, trợ cấp cho các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 2- Phụ cấp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; 3- Các khoản phụ cấp theo quy định của Bộ luật Lao động gồm phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút đối với vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật đối với người làm việc ở vùng xa xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu; 4- Các khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động gồm trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần,  tiền  tuất  hằng  tháng, các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp, các khoản trợ cấp khác do bảo hiểm xã hội trả; 5- Trợ cấp để giải quyết tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật.

Các khoản phụ cấp, trợ cấp, mức phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nêu trên thực hiện theo các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được áp dụng thống nhất với tất cả các đối tượng, các thành phần kinh tế. Văn bản hướng dẫn về các khoản phụ cấp, trợ cấp, mức phụ cấp, trợ cấp áp dụng đối với khu vực nhà nước, các thành phần kinh tế khác, các cơ sở kinh doanh được căn cứ vào danh mục và mức phụ cấp, trợ cấp hướng dẫn đối với khu vực nhà nước để tính trừ. Các trường hợp chi cao hơn mức phụ cấp, trợ cấp theo quy định thì phần chi vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Lên phía trên
Những quy định mới về cổ phần hóa doanh nghiệp
Câu hỏi:
Một số bạn đọc gửi thư đề nghị Tạp chí giải đáp các thắc mắc về việc cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp cổ phần hóa. Về những vấn đề này, Tạp chí xin giải đáp như sau:
Trả lời:
1. Quy định mới về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp (DN) 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007. Thay vì quy định 6 đối tượng như trước đây, theo Nghị định mới ban hành, có 3 đối tượng được cổ phần hóa. Các đối tượng được cổ phần hóa gồm: 1- Công ty trách nhiệm hữu hạn (Cty TNHH) một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước); 2- Cty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là DN thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 3- DN 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành Cty TNHH một thành viên. Các DN trên thực hiện cổ phần hóa khi đảm bảo đủ 2 điều kiện: Không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ (Danh mục DN thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ) và còn vốn Nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị DN.

Mỗi DN cổ phần hóa có tối đa 3 nhà đầu tư chiến lược

Nghị định nêu rõ, căn cứ vào quy mô vốn điều lệ, tính chất ngành nghề kinh doanh và yêu cầu mở rộng phát triển DN, Ban Chỉ đạo (BCĐ) cổ phần hóa DN trình cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa việc bán cổ phần lần đầu cho nhà đầu tư chiến lược và tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược.

Một trong những điểm mới của Nghị định này là quy định riêng đối với các DN quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề đặc thù (như: bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí, khai thác mỏ quý hiếm khác) và các công ty mẹ thuộc các Tập đoàn kinh tế, TCty nhà nước nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược trước thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hoá báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán và số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược.

Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung quy định về số lượng nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại mỗi DN cổ phần hóa được xác định tối đa là 3 nhà đầu tư.

Nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 5 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu hoạt động theo Luật DN. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.

2. Quyền lợi người lao động khi doanh nghiệp cổ phần hóa

Theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động, trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động.

Vì vậy, đối với người lao động đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, khi chuyển sang công ty cổ phần, người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động đã ký, trường hợp có thay đổi về nội dung hợp đồng lao động đã ký thì hai bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hoặc ký lại hợp đồng lao động.
Lên phía trên
Quy định về thời gian nghỉ phép năm
Câu hỏi:
Một bạn đọc gửi thư cho Tạp chí hỏi: Tôi làm việc trong một doanh nghiệp, mỗi năm được Công ty cho nghỉ phép 12 ngày, nhưng trong năm tôi không nghỉ phép. Vậy, năm sau tôi có được nghỉ số ngày phép còn lại của năm trước không? Nếu không nghỉ phép, tôi có được thanh toán chế độ phép không? Thời gian làm việc tại một cơ quan bao lâu thì được hưởng phép năm? Chế độ nghỉ việc riêng và nghỉ không lương?
Trả lời:
Tại Mục II, Chương VII Bộ luật Lao động quy định về thời giờ nghỉ ngơi của người lao động như sau:

Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 74, Điều 75, và Khoản 2 Điều 77 Bộ luật Lao động, thì NLĐ có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một NSDLĐ thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo số ngày như sau:

- 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

- 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người dưới 18 tuổi;

- 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt.

Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một NSDLĐ, cứ 5 năm được nghỉ thêm một ngày.

NLĐ có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán bằng tiền.

Trường hợp được gộp ngày nghỉ 2 năm

Tại Điều 76 Bộ luật Lao động quy định như sau: NSDLĐ có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho mọi người trong doanh nghiệp.

NLĐ có thể thoả thuận với NSDLĐ để nghỉ hàng năm thành nhiều lần. Người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ của hai năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp ba năm một lần thì phải được NSDLĐ đồng ý.

NLĐ do thôi việc hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm, thì được trả lương những ngày chưa nghỉ.

Về chế độ nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương

Tại Điều 78, 79, Mục III, Chương VII Bộ luật Lao động quy định về nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương như sau:

Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp: Kết hôn, nghỉ ba ngày; Con kết hôn, nghỉ một ngày; Bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết, nghỉ ba ngày.

Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

Trường hợp của bạn, thì số ngày nghỉ hàng năm hưởng nguyên lương (thường gọi là nghỉ phép), được tính chuẩn theo 12 tháng làm việc. Nếu có dưới 12 tháng làm việc thì số ngày nghỉ phép được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc và có thể được thanh toán bằng tiền.

Nếu bạn làm việc ở nơi xa xôi, hẻo lánh, trong năm bạn chưa nghỉ hết ngày nghỉ hàng năm (nghỉ phép), nếu có yêu cầu, thì bạn được gộp số ngày nghỉ của 2 năm để nghỉ một lần; nếu nghỉ gộp 3 năm một lần thì phải được giám đốc công ty đồng ý.

Trường hợp do yêu cầu sản xuất mà công ty chưa bố trí được lịch nghỉ trong năm, hay các lý do khác, hay khi thôi việc mà bạn chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được trả lương những ngày chưa nghỉ.

Đối với chế độ nghỉ việc riêng, nghỉ không lương, căn cứ theo các quy định trên.
Lên phía trên
Một số quy định về thi nâng ngạch công chức và xét nâng lương
Câu hỏi:
Đề nghị Tạp chí cho biết quy định mới về điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự thi nâng ngạch công chức?
Trả lời:
Công chức đăng ký dự thi nâng ngạch phải bảo đảm có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau:

- Có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch công chức cao hơn ngạch công chức hiện giữ trong cùng ngành chuyên môn;

- Được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian 3 (ba) năm liên tục tính đến hết năm 2010, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật hoặc trong thời gian bị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật;

- Có đủ các tiêu chuẩn về thời gian giữ ngạch, văn bằng, chứng chỉ, các đề án, đề tài theo quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi, cụ thể như sau:

* Về thời gian giữ ngạch: Đối với kỳ thi nâng ngạch lên cán sự, chuyên viên hoặc tương đương: Có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc ở vị trí của ngạch nhân viên, cán sự hoặc tương đương từ đủ 3 năm trở lên (không kể thời gian tập sự, thử việc), trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch;

+ Đối với kỳ thi nâng ngạch lên chuyên viên chính hoặc tương đương: có thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc ở vị trí của ngạch chuyên viên hoặc tương đương từ đủ 9 năm trở lên (không kể thời gian tập sự, thử việc), trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch;

- Đối với kỳ thi nâng ngạch lên chuyên viên cao cấp hoặc tương đương: có thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc ở vị trí của ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương từ đủ 6 năm trở lên, trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch.

* Về văn bằng, chứng chỉ: Phải bảo đảm các yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi.
Lên phía trên
Quy định mới về điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự thi nâng ngạch công chức?
Câu hỏi:
Một viên chức được nâng lương vào tháng 5/2008, nhưng bị kỷ luật khiển trách từ 8/2008 đến tháng 7/2009. Tháng 5/2011 là thời hạn nâng bậc lương tiếp theo. Vậy, viên chức này bị kéo dài thời gian xét nâng bậc lương thêm 6 tháng theo hay 12 tháng?
Trả lời:
Hỏi: Đề nghị Tạp chí cho biết quy định mới về điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự thi nâng ngạch công chức?

Trả lời: Công chức đăng ký dự thi nâng ngạch phải bảo đảm có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau:

- Có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch công chức cao hơn ngạch công chức hiện giữ trong cùng ngành chuyên môn;

- Được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian 3 (ba) năm liên tục tính đến hết năm 2010, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật hoặc trong thời gian bị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật;

- Có đủ các tiêu chuẩn về thời gian giữ ngạch, văn bằng, chứng chỉ, các đề án, đề tài theo quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi, cụ thể như sau:

* Về thời gian giữ ngạch: Đối với kỳ thi nâng ngạch lên cán sự, chuyên viên hoặc tương đương: Có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc ở vị trí của ngạch nhân viên, cán sự hoặc tương đương từ đủ 3 năm trở lên (không kể thời gian tập sự, thử việc), trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch;

+ Đối với kỳ thi nâng ngạch lên chuyên viên chính hoặc tương đương: có thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc ở vị trí của ngạch chuyên viên hoặc tương đương từ đủ 9 năm trở lên (không kể thời gian tập sự, thử việc), trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch;

- Đối với kỳ thi nâng ngạch lên chuyên viên cao cấp hoặc tương đương: có thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc ở vị trí của ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương từ đủ 6 năm trở lên, trong đó phải có thời gian công tác ở ngạch công chức hiện giữ từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký dự thi nâng ngạch.

* Về văn bằng, chứng chỉ: Phải bảo đảm các yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi.

Hỏi: Một viên chức được nâng lương vào tháng 5/2008, nhưng bị kỷ luật khiển trách từ 8/2008 đến tháng 7/2009. Tháng 5/2011 là thời hạn nâng bậc lương tiếp theo. Vậy, viên chức này bị kéo dài thời gian xét nâng bậc lương thêm 6 tháng theo hay 12 tháng?

Trả lời: Tại Khoản 3, Điều 1 Nghị định 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, quy định như sau:

“Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 7 như sau:

c) Các đối tượng quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao hàng năm hoặc bị kỷ luật một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức thì cứ mỗi năm không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị kỷ luật thì kéo dài thêm thời gian tính nâng bậc lương thường xuyên so với thời gian quy định như sau:

- Trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị kỷ luật hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì bị kéo dài thêm 06 (sáu) tháng so với thời gian quy định;

- Trường hợp bị kỷ luật hình thức giáng chức hoặc cách chức thì bị kéo dài thêm 12 tháng (một năm) so với thời gian quy định”.

Thời điểm áp dụng

Về vấn đề bạn đọc nêu trên, thời điểm viên chức bị kỷ luật hình thức khiển trách là thời điểm viên chức đó phải chịu áp dụng biện pháp kỷ luật bổ sung đó là kéo dài thêm thời gian nâng lương.

Thời điểm viên chức bị kỷ luật là tháng 8/2008 cũng là thời điểm phải cộng thêm thời gian nâng lương. Thời điểm này thực hiện theo quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP “nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao hàng năm hoặc bị kỷ luật một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc bị bãi nhiệm thì cứ mỗi năm không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị kỷ luật bị kéo dài thêm thời gian tính nâng bậc lương thường xuyên 1 năm (đủ 12 tháng) so với thời gian quy định”.

Nếu năm 2011 viên chức này hoàn thành nhiệm vụ, không bị xử lý kỷ luật thì đến tháng 5/2012 sẽ được nâng lương