06:02 ICTThứ Hai, 16/09/2019
Tập đoàn CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
vietnam national coal - mineral industries holding corporation limited
Xí nghiệp chế biến và tiêu thụ than Hòn Gai: 10 năm "Biến cái không thể thành có thể"
Thứ Hai, ngày 28/05/2012

Xí nghiệp Chế biến và tiêu thụ than thuộc Công ty TNHH MTV than Hòn Gai-Vinacomin được thành lập ngày 1/6/2002 theo quyết định số 548/QĐ-TCCB ngày 23/5/2002 của Tổng giám đốc Tổng công ty than Việt Nam (nay là Tập đoàn Vinacomin) trên cơ sở sáp nhập 4 phân xưởng cảng của các xí nghiệp khai thác nhằm tập trung chuyên môn hoá công tác chế biến và tiêu thụ; với chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận than nguyên khai của các xí nghiệp, chế biến và tiêu thụ theo kế hoạch điều hành của Công ty.

Việc thành lập Xí nghiệp là một bước chuyển đổi rất quan trọng trong công tác quản lý, nó có ý nghĩa không chỉ với tập thể cán bộ, công nhân của Xí nghiệp mà cả với Công ty than Hòn Gai thời điểm đó. Những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cũng như các đơn vị khác trong ngành Than, Công ty than Hòn Gai đã phải trải qua một giai đoạn rất khó khăn trong SXKD. Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình dần được cải thiện, nhưng về cơ bản vẫn chưa hết khó khăn. Đặc biệt với Công ty than Hòn Gai, vốn trước đây là một công ty có quy mô lớn, nhưng do sắp xếp lại tổ chức, hầu hết các mỏ lớn đều đã tách ra trực thuộc Tổng Công ty, chỉ còn lại những mỏ có quy mô nhỏ, nên trong khâu chế biến và tiêu thụ than có rất nhiều bất ổn, phân tán và manh mún, theo kiểu mạnh ai nấy làm, rất khó quản lý. Vậy nên Đảng ủy và tập thể lãnh đạo Công ty đã họp đi họp lại khá nhiều lần và cuối cùng đi đến quyết định thống nhất cần phải đưa khâu tiêu thụ, chế biến than của Công ty vào một đầu mối; đó là lý do chính để ra đời Xí nghiệp.

Những ngày đầu thành lập, Xí nghiệp có 226 CNCB; cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, có 2 máy sàng, 2 máy xúc lật và 2 máy gạt đều đã qua sử dụng nhiều năm hoạt động hiệu quả thấp; sản xuất còn mang tính thủ công; công nhân kỹ thuật vừa thiếu, vừa yếu về tay nghề; kho chứa than để gia công chế biến còn chật hẹp lại xen kẽ với khu dân cư trên địa bàn v.v. Nhận thức rõ trách nhiệm của mình, lãnh đạo Xí nghiệp cùng tập thể CNCB phát huy tinh thần đoàn kết, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, từng bước ổn định sản xuất, đảm bảo việc làm và đời sống người lao động, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch Công ty giao 6 tháng cuối năm 2002: Tổ chức tiếp nhận 285.000 tấn than nguyên khai; sàng than sạch chế biến 262.000 tấn; than tiêu thụ 258.000 tấn; doanh thu 56.200 triệu đồng; tiền lương bình quân 861.000 đồng/ người/ tháng.

Năm 2004, Xí nghiệp tiếp nhận thêm các Phân xưởng Hà Phong, Tây Khe Sim, cảng Quyết Thắng của Xí nghiệp than Tân Lập và phân xưởng ô tô của Xí nghiệp than Cao Thắng; thành lập thêm phân xưởng cơ giới; tổng số hơn 340 CNCB. Bằng nhiều biện pháp trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành và từng bước tiếp nhận đầu tư thiết bị, đổi mới công nghệ, duy trì ổn định và phát triển sản xuất, từ chỗ chỉ có 2 phân xưởng sàng than bằng máy, đến năm 2005 Xí ngiệp đã có 100% các phân xưởng chế biến than sử dụng sàng máy. Sản lượng than tiêu thụ hàng năm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch, tăng từ 22 - 50% so với năm 2003; tiền lương bình quân so với 2003 cũng tăng 57%.   

Những công nhân trên băng sàng thu hồi than cục. Ảnh: Trần Ngọc Duy
Cuối năm 2006 và đầu năm 2007, Xí nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới công nghệ để phát triển sản xuất, triển khai lắp đặt hệ thống băng tải rót than tiêu thụ tại cảng Phà Bang; tiếp  nhận 2 phân xưởng vận tải của Xí nghiệp than 917, đảm nhận thêm nhiệm vụ vận tải than cho tất cả các đơn vị trong công ty. Đầu năm 2008, thực hiện quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh về công tác môi trường, phân xưởng cảng Phà Bang và phân xưởng Hà Khánh đều phải dừng hoạt động để chuyển về vị trí mới tại mặt bằng +68 và Bắc Cọc Sáu. Công tác chuẩn bị sản xuất đối với 2 phân xưởng này được thực hiện lại từ đầu. Tại khu vực Hà Khánh chỉ còn duy nhất phân xưởng Cao Thắng tiếp tục nhiệm vụ sàng tuyển. Xí nghiệp chủ động thuê thêm 1 cụm sàng máy và triển khai sàng thủ công tại mặt bằng phân xưởng Cao Thắng đáp ứng yêu cầu tiêu thụ của công ty, đảm bảo ổn định việc làm và thu nhập cho hơn 600 CNCB trong thời gian di chuyển vị trí sản xuất mới. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của Xí nghiệp: diện sản xuất phân tán nhỏ lẻ từ phường Hà Khánh thành phố Hạ Long đến khu vực Bắc Cọc Sáu thị xã Cẩm Phả; công tác đầu tư phục vụ sản xuất còn ở mức khiêm tốn, tiêu thụ than phụ thuộc nhiều vào các cảng, công tác môi trường đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, năng suất lao động thấp, chi phí phát sinh nhiều, làm mất cân đối với năng lực tạo nên sức ép về việc làm, thu nhập và chi phí sản xuất. Dù vậy, Xí nghiệp vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ SXKD công ty giao, đời sống CNCB được duy trì ổn định. Ngày 1/7/2008, thực hiện quyết định của Tập đoàn, Xí nghiệp than Tân Lập chuyển về trực thuộc Công ty than Hạ Long, theo đó phân xưởng Hà Phong chuyển về Công ty than Hà Tu, các phân xưởng Tây Khe Sim và Bắc Cọc Sáu được bàn giao cho Than Tân Lập. Từ đây sản xuất của Xí nghiệp tập trung tại khu vực phường Hà Khánh. 

Tháng 3/2009, mô hình tổ chức sản xuất của Xí nghiệp được tinh gọn còn 3 phân xưởng sản xuất, với 2 phân xưởng vận tải và 1 phân xưởng sàng tuyển chế biến, có từ 150 đến 250 CNCB cho một phân xưởng. Công tác đầu tư thiết bị, đổi mới công nghệ được tăng cường. Trong 3 năm đã đầu tư gần 160 tỷ đồng để thay thế các thiết bị hết khấu hao hoạt động kém hiệu quả. Lao động được thay thế bằng cơ giới hoá từ khâu sàng tuyển đến khâu tiêu thụ, giảm được rất nhiều công việc nặng nhọc, năng suất lao động tăng cao, đáp ứng kịp thời cho việc thực hiện kế hoạch. Tính đến thời điểm hiện nay Xí nghiệp có 568 CNCB, trong đó trình độ đại học 90 người, cao đẳng và trung cấp 70 người, công nhân kỹ thuật 345 người và lao động phổ thông là 63 người. Việc hợp lý về cơ cấu lao động, quy mô sản xuất đã tạo điều kiện cho Xí nghiệp quy hoạch và phát triển, thuận lợi cho điều hành sản xuất và phát huy tốt mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực con người. Trong 3 năm gần đây Xí nghiệp đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ nét trên tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và chăm lo đời sống người lao động. Hàng năm Xí nghiệp đều hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch SXKD công ty giao với sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ. Năm 2011 Công ty than Hòn Gai đánh dấu mốc son sản xuất được hơn 3 triệu tấn than nguyên khai. Kết quả đó đã tạo đà cho Xí nghiệp tổ chức chế biến và tiêu thụ hơn 2,15 triệu tấn than, tăng 19% so với năm 2010 và tăng 70% so với 2009;  doanh thu tăng 40% so với năm 2010 và tăng gấp đôi năm 2009; tiền lương bình quân 7,8 triệu đồng/ người/ tháng, tăng 34% so với năm 2009 và tăng 49% so với kế hoạch năm.

Trung tuần tháng 12 năm 2004, trong lễ đón mừng tấn than thứ 1 triệu của Công ty than Hòn Gai, Tổng giám đốc Tập đoàn lúc ấy là ông Đoàn Văn Kiển đã phát biểu, nhấn mạnh: Than Hòn Gai đã làm được một việc “không thể thành có thể”. Cũng có thể nói như vậy với những gì mà Xí nghiệp chế biến và tiêu thụ than Hòn Gai đã làm được kể từ khi thành lập đến thời điểm đó và kể từ thời điểm đó đến nay. Vì sao Xí nghiệp đã làm được điều đó? Có nhiều nguyên nhân, nhưng tựu chung lại ở một số nguyên nhân cơ bản nhất, đầu tiên đó là sự định hướng đúng trong việc xây dựng và đổi mới cơ chế quản lý nhanh nhạy, phù hợp thực tiễn qua từng giai đoạn; tiếp đến là sự đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đầu tư về nhân lực v.v. theo hướng tập trung, ngày càng chuyên nghiệp hơn; và quan trọng nhất là sự đồng thuận; đồng thuận trong nội bộ Xí nghiệp, đồng thuận giữa Xí nghiệp với các đơn vị hữu quan; đồng thuận giữa Xí nghiệp với Công ty… Chính sự đồng thuận này đã giúp Xí nghiệp tạo được sự đoàn kết, nhất trí để vượt qua khó khăn. Đó còn là do CNCB Xí nghiệp đã biết chung sức chung lòng vì sự vững mạnh, đi lên của đơn vị. Một khi Xí nghiệp mạnh, Công ty mạnh thì bản thân mỗi CBCN cũng sẽ mạnh.  

Qua 10 năm xây dựng và phát triển, Xí nghiệp luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tổ chức tiếp nhận 14,5 triệu tấn than nguyên khai, gia công chế biến và tiêu thụ trên 13,2 triệu tấn than sạch, hoàn thành tốt nghĩa vụ với nhà nước, chăm lo chu đáo, thiết thực đến đời sống CNCB về cả vật chất lẫn tinh thần. Ghi nhận những thành tích đó, tập thể CNCB Xí nghiệp vinh dự và tự hào được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.
 

Giá vàng

Loại vàng Mua Bán
Vàng miếng SJC 41,600 41,900
Vàng ép vỉ Hưng Thịnh Vượng 41,360 41,760
Nguồn: tp bank

Đơn vị thành viên